0978002299

Giới thiệu

Máy chủ Intel x86 có 4 khe cắm – socket Bộ vi xử lý – CPU Intel x86 thế hệ công nghệ mới Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là 1 biến thể cáu hình trong họ các sản phẩm máy chủ Intel x86 của Oracle được thiết kế nhằm mục đích để thực thi tốt nhất các phần mềm của Oracle. Oracle cũng đang tích cực giới thiệu ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) dựa trên giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non-Volatile Memory Express – NVMe để có thể cho phép tăng tốc xử lý phần mềm CSDL Oracle. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 thế hệ công nghệ mới là nền tảng lý tưởng để triển khai cho các công nghệ ảo hóa và các ứng dụng quy mô lớn yêu cầu phải có dung lượng bộ nhớ lớn và năng lực xử lý cao. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được cấu hình với các biến thể 2 hoặc 4 Bộ vi xử lý – CPU Intel Xeon E7-8895 v3 với 18 lõi vi xử lý – cores trên mỗi Bộ vi xử lý – CPU có thể hỗ trợ lên tới 96 module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM) DDR3 sử dụng điện áp thấp với tổng dung lượng bộ nhớ tối đa lên tới 3 TB

Tổng quan về sản phẩm

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có kích thước 3U bao gồm 11 khe cắm kết nối thiết bị ngoại vi PCIe 3.0 (2 khe 16-lane, 9 khe 8-lane), 6 khe gắn ổ đĩa kích thước 2,5 inch, 6 cổng USB (2 mặt trước, 2 phía sau và 2 ở bên trong), 4 cổng Ethernet 10Gbase-T được tích hợp sẵn trên bảng mạch – on board (Intel Twinville) và 1 ổ đĩa DVD +/- RW. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 hỗ trợ lên tới 6 ổ đĩa cứng – HDD giao tiếp SAS-3 hoặc ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD), cho phép lưu trữ cục bộ lên tới 7,2 TB trên các ổ đĩa cứng – HDD hoặc lưu trữ lên tới 2,4 TB trên các ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) truyền thống. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cũng có thể được cấu hình cục bộ với 4 ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVM Express có độ bền cao – high-endurance của Oracle qua giao tiếp PCIe cho dung lượng tối đa 6,4 TB được tối ưu cho các thao tác ghi – write-optimized bộ nhớ flash PCIe.

Hình 1. Các cấu phần công nghệ của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được tích hợp sẵn miễn phí các công cụ quản lý đẳng cấp cao cho phép giảm thiểu chi phí quản trị vận hành khi có thể sớm tìm ra các sự cố phần cứng và làm cho việc thiết lập ban đầu trở nên dễ dàng. Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) cho phép từ xa thực hiện quản lý năng lượng, điều khiển bàn phím ảo, video, chuột (keyboard, video, mouse – KVM), giám sát trạng thái vận hành tiên tiến và cấu hình máy chủ. Ngoài ra, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cũng còn có Oracle System Assistant là 1 phần mềm công cụ hướng dẫn thuật sĩ – wizard-style được nhúng sẵn hỗ trợ triển khai máy chủ theo từng bước, chẳng hạn như kiểm tra cập nhật firmware và trình điều khiển từ Oracle, cấu hình RAID, Oracle ILOM và sắp xếp hợp lý việc cài đặt Hệ điều hành.

Firmware là 1 loại phần mềm có khả năng kiểm soát, giám sát và thao tác dữ liệu của Hệ điều hành, ví dụ như các thiết bị chứa phần mềm là các hệ thống nhúng (máy vi tính, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, thiết bị điều khiển từ xa, đèn giao thông…). Phần mềm Firmware có trong thiết bị nào sẽ có khả năng điều khiển thiết bị đó ở cấp thấp và có thể được cập nhật nâng cấp. Phần mềm Firmware thường nằm trong ROM, EPROM hay bộ nhớ flash, thay đổi phần mềm Firmware thường được sử dụng để sửa lỗi hoặc bổ xung thêm tính năng và khi đó thiết bị đòi hỏi ROM hoặc bộ nhớ flash phải được thay đổi về cấu trúc hoặc lập trình lại thông qua 1 thủ tục đặc biệt. 

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp để làm việc tốt nhất với các tùy chọn Hệ điều hành của Oracle. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể được chuyển từ nhà máy tới người dùng với các tùy chọn Hệ điều hành Oracle Linux, Oracle VM, hoặc Oracle Solaris đã được cài đặt sẵn.

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là lựa chọn Server Intel x86 tốt nhất cho Oracle Software

Oracle SUN Server Intel x86 là các server Intel x86 tốt nhất cho phần mềm của Oracle. Chỉ duy nhất Oracle có thể cung cấp cho người dùng tập hợp các thành phần công nghệ phần cứng và các thành phần công nghệ phần mềm được tích hợp và tối ưu hóa với các tùy chọn của Hệ điều hành, phần mềm ảo hóa và công cụ quản trị giải pháp điện toán đám mây – tất cả đều miễn phí. Các thành phần công nghệ phần cứng và các thành phần công nghệ phần mềm của Oracle được tối ưu hóa để làm việc cùng với nhau đã cho phép đạt hiệu năng lên đến trên 10x lần trong các Hệ thống hiệu năng cao được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh từ nhà máy – Oracle Engineered Systems được thể hiện bằng các kết quả kỷ lục thế giới về tiêu chuẩn hiệu năng – benchmark. Các hệ thống Intel x86 hoàn thiện dựa trên các tiêu chuẩn công nghiệp mở – open standards của Oracle là các nền tảng Intel x86 tốt nhất để thực thi các phần mềm Oracle với cấp độ tin cậy cao hơn rất nhiều trong các môi trường Trung tâm dữ liệu.

Các tổ chức yêu cầu có thời gian đáp ứng giao dịch nhanh hơn và gia tăng thông lượng truyền dữ liệu từ CSDL sẽ yêu cầu hoạt động I/O cường độ cao cũng như yêu cầu tăng dung lượng bộ nhớ chính trong các Trung tâm dữ liệu. CSDL Oracle được thiết kế để tận dụng các tính năng tiên tiến của các thành phần công nghệ phần cứng như mật độ lõi vi xử lý cao của Bộ vi xử lý – CPU và kiến ​​trúc tối ưu hóa truy cập Bộ nhớ không đồng nhất (non-uniform memory access – NUMA) để nâng cao hiệu năng của hệ thống.

Lợi ích thu được bao gồm tăng được thông lượng giao dịch và cải thiện được thời gian đáp ứng của ứng dụng cho phép làm giảm chi phí tổng thể trên mỗi giao dịch. Oracle đã tận dụng khả năng của ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non-Volatile MemoryExpress – NVM Express trong các hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 thế hệ công nghệ mới.

Thiết kế Truy cập Bộ nhớ không đồng nhất (Non-uniform memory access – NUMA) là 1 kiểu thiết kế bộ nhớ máy tính được sử dụng trong các xử lý đa tiến trìnhkhi mà thời gian truy cập vào bộ nhớ phụ thuộc vào vị trí tương đối của bộ nhớ so với các Bộ vi xử lý. Trong thiết kế Truy cập Bộ nhớ không đồng nhất (Non-uniform memory access – NUMA), Bộ vi xử lý có thể truy cập vào bộ nhớ riêng cục bộ của chính nó nhanh hơn so với việc truy cập đến các bộ nhớ không cục bộ (là các bộ nhớ cục bộ của Bộ vi xử lý khác hoặc bộ nhớ dùng chung được chia sẻ giữa các Bộ vi xử lý). Những lợi ích của Thiết kế Truy cập Bộ nhớ không đồng nhất (Non-uniform memory access – NUMA) là giới hạn được khối lượng tải ứng dụng cụ thể, đặc biệt là trên các máy chủ khi mà dữ liệu thường được gắn liền với các nhiệm vụ hoặc những người dùng nhất định

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 với giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non-Volatile Memory Express – NVM Express để tận dụng tính năng Database Smart Flash Cache của Oracle Database

Oracle Database tận dụng tính năng Database Smart Flash Cache có sẵn trong các Hệ điều hành Oracle Linux và Oracle Solaris và cho phép người dùng tăng dung lượng bộ nhớ đệm của CSDL – Oracle Database buffer cache hiệu quả mà không cần bổ sung thêm dung lượng bộ nhớ chính vào hệ thống. Đối với các loại tải ứng dụng dựa trên giao dịch, các khối dữ liệu của Oracle Database thường được nạp vào vùng nhớ chia sẻ chuyên biệt trong bộ nhớ chính được gọi là system global area – SGA. Tính năng Database Smart Flash Cache cho phép dung lượng bộ nhớ đệm của CSDL – Oracle Database buffer cache được gia tăng vượt lên trên dung lượng của system global area – SGA trong bộ nhớ chính khi có thể tận dụng dung lượng của bộ nhớ đệm cấp 2 – second level cache trên các bộ nhớ flash memory. Các ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVM Express được kết nối qua giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi tốc độ cao (PCI Express – PCIe) có trong các hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cung cấp băng thông rộng, độ trễ truyền dữ liệu thấp để trợ giúp thực hiện tính năng Database Smart Flash Cache cho phép cải thiện, làm giảm đáng kể thời gian xử lý các ứng dụng giao dịch trực tuyến (On Line Transaction Processing – OLTP).

Bộ nhớ máy tính (Computer data storrage), thường được gọi là ổ nhớ (storage) hoặc bộ nhớ (memory), là 1 thiết bị công nghệ chứa đựng các phần tử máy tính và ghi nhớ thông tin, được dùng để duy trì dữ liệu số và là 1 linh kiện căn bản và chức năng lõi của các máy tính. Bộ nhớ máy tính có thể là

  • các bộ nhớ điện tĩnh bất biến (non-volatile memory) để lưu trữ dữ liệu lâu dài của máy tính (khi kết thúc 1 phiên làm việc của máy tính thì dữ liệu không bị mất đi,
  • các bộ nhớ điện động khả biến (volatile memory) để lưu dữ liệu tạm thời chỉ trong quá trình làm việc của máy tính (khi kết thúc 1 phiên làm việc của máy tính thì bộ nhớ này bị mất hết dữ liệu).

Bộ nhớ chỉ đọc (Read-Only Memory – ROM) là loại bộ nhớ điện tĩnh bất biến (non-volatile memory) dùng trong các máy tính hay hệ thống điều khiển, mà trong vận hành bình thường của hệ thống thì dữ liệu chỉ được đọc ra mà không được phép ghi vào. Thông tin, dữ liệu trên Bộ nhớ chỉ đọc (Read-Only Memory- ROM) vẫn được duy trì dù bị ngắt điện và được dùng để lưu giữ mã chương trình điều hành và dữ liệu mặc định của hệ thống. Bộ nhớ chỉ đọc (Read-Only Memory- ROM) theo đúng nghĩa cũng như đối với các thế hệ công nghệ đầu, cho phép chỉ đọc dữ liệu và chỉ cho phép ghi dữ liệu 1 lần còn gọi là nạp ROM nhưng do công nghệ phát triển và nhu cầu thực tế, các thế hệ Bộ nhớ chỉ đọc (Read-Only Memory- ROM) sau này được chế tạo với khả năng xoá được và có thể nạp nhiều lần nhưng phải tuân theo quy trình đặc biệt đặc trưng để cho khả năng mềm dẻo trong việc sửa đổi tính năng vận hành của hệ thống điều khiển.

Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (Random access memry – RAM) là không gian nhớ tạm để máy tính hoạt động, nhưng khi tắt máy tính thì RAM không còn lưu dữ liệu dù từng được máy tính lưu trên đó, vì RAM là bộ nhớ điện động khả biến (volatile memory) chỉ tạm nhớ dữ liệu cho Bộ vi xử lý – CPU tận dụng để có thể xử lý nhanh hơn do tốc độ truy xuất trên RAM nhanh hơn rất nhiều lần so với truy xuất trên ổ đĩa cứng – HDD (là nơi thật sự lưu trữ dữ liệu lâu dài) hay các thiết bị lưu trữ khác.

Flash Memory là bộ nhớ điện tĩnh bất biến (non-volatile memory) có thể được xóa bằng điện và có thể được lập trình lại, nhưng không cần được cung cấp điện để duy trì những thông tin, dữ liệu được lưu trữ trong đó.

LoạiMất dữ liệu
khi mất điện?
Khả năng ghi ?Cỡ xoá ?Xoá
nhiều lần ?
Tốc độ ?Giá thành
(theo byte)
SRAMByteKhông giới hạnNhanhĐắt
DRAMByteKhông giới hạnVừa phảiVừa phải
Masked ROMKhôngKhôngKhông sẵn sàngKhông sẵn sàngNhanhKhông đắt
PROMKhông1 lần, yêu cầu thiết bị chuyên dụngKhông sẵn sàngKhông sẵn sàngNhanhVừa phải
EPROMKhôngCó, nhưng cần thiết bị chuyên dụngToàn bộGiới hạnNhanhVừa phải
EEPROMKhôngByteGiới hạnNhanh cho đọc, chậm cho xoá và ghiĐắt
FlashKhôngSectorGiới hạnNhanh cho đọc, chậm cho xoá/ghiVừa phải
NVRAMKhôngByteKhông giới hạnNhanhĐắt

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 tận dụng Phương tiện lưu trữ flash giao tiếp thế hệ công nghệ mới – Non-Volatile Memory Express –  NVM Express là các Phương tiện lưu trữ flash có băng thông rộng, độ trễ truyền dữ liệu thấp được kết nối qua giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi tốc độ cao (PCI Express – PCIe) với số lượng lớn trong hệ thống. Oracle Database với các tính năng Database Smart Flash Cache và Oracle Solaris ZFS được thiết kế đặc biệt để có thể tận dụng được các Phương tiện lưu trữ flash có băng thông rộng, độ trễ truyền dữ liệu thấp được kết nối qua giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi tốc độ cao (PCI Express – PCIe) có trong Oracle SUN Server Intel x86 X5-4. Các Hệ điều hành Oracle Solaris và Oracle Linux được cùng nghiên cứu, phát triển, thiết kế với hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 để thực hiện các khối lượng tải ứng dụng quy mô lớn bằng cách kích hoạt các khả năng cắm nóng – hot-pluggable. Các ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) truyền thống được kết nối qua giao tiếp SAS/SATA là  phương pháp phổ biến để thêm các Phương tiện lưu trữ flash vào hệ thống để tận dụng được cơ sở hạ tầng kế thừa của các khung chứa các ổ đĩa và bộ điều khiển Phương tiện lưu trữ – storage controller. Giao tiếp Non-Volatile Memory Express – NVM Express là giao tiếp thế hệ công nghệ mới hoàn toàn giúp loại bỏ các nút thắt hiệu năng – bottlenecks thường đi cùng với các giao tiếp lưu trữ truyền thống.

Hình 2 minh họa sơ đồ khối kết nối của ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) truyền thống qua giao thức SAS-3 truyền thống tới hệ thống máy chủ. Cấu phần phức hợp gốc – root complex qua giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi PCIe của hệ thống máy chủ kết nối tới bộ điều khiển PCIe/SAS để chuyển đổi từ giao tiếp PCIe thành giao thức SAS cho phép hệ thống máy chủ đọc và ghi được trên ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) truyền thống qua giao tiếp SAS-3. Vì ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVM Express đã sử dụng giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi tốc độ cao (PCI Express – PCIe) nên không cần phải chuyển đổi qua bộ điều khiển PCIe/SAS, như thể hiện trong hình 3.

Giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVM Express độc đáo được thiết kế bởi Oracle để tận dụng được tính năng Database Smart Flash Cache của Oracle Database

Hình 2. Kiến trúc ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) kết nối qua giao thức SAS truyền thống

Hình 3. Kiến trúc ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) kết nối qua giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non-Volatile Memory Express – NVM Express

SCSI (Small Computer System Interface) là tiêu chuẩn giao tiếp được dùng lần đầu tiên trong Server (máy chủ). 

Kế đến là PATA (Parallel ATA) – tiêu chuẩn giao tiếp truyền dữ liệu theo dạng song song.

Và hiện nay là SATA và SAS là 2 tiêu chuẩn giao tiếp phổ biến hiện nay, được thiết kế dành cho dòng server (máy chủ) và workstation (máy trạm).

SATA (Serial Advanced Technology Attachment) – tiêu chuẩn giao tiếp truyền dữ liệu theo dạng nối tiếp, là tiêu chuẩn giao tiếp phổ thông với công nghệ hiện tại dùng để kết nối 1 ổ đĩa cứng (hard disk driver – HDD) hoặc ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) với các thành phần công nghệ còn lại của máy tính. SATA truyền dữ liệu theo dạng nối tiếp được tạo ra nhằm thay thế cho PATA – chuẩn kết nối truyền dữ liệu song song. Ưu điểm của việc truyền tải song song – PATA so với truyền tải nối tiếp SATA chính là tốc độ cao, cùng 1 lúc có thể gửi đi nhiều dữ liệu. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của PATA chính là vấn đề tạp âm nhiễu. Do có nhiều dây dẫn cùng được sử dụng nên các dây dẫn này sẽ gây xuyên nhiễu sang dây dẫn khác. Để khắc phục được nhược điểm của tiêu chuẩn giao tiếp PATA thì tiêu chuẩn giao tiếp SATA được thiết kế chỉ với 1 dây dẫn truyền dữ liệu và 1 dây tiếp nhận dữ liệu nên sẽ hạn chế được tối đa vấn đề về tạp âm nhiễu. Với cấu tạo ít dây dẫn hơn so với những tiêu chuẩn giao tiếp cũ, tiêu chuẩn giao tiếp SATA đã giúp ích rất nhiều cho khía cạnh tỏa nhiệt của máy tính. Không gian còn trống nhiều sẽ giúp cho không khí được lưu thông dễ dàng hơn.Tiêu chuẩn giao tiếp SATA đã được sử dụng phổ biến trong vòng 10 năm trở lại đây bởi xét về mục đích cũng như giá cả thì nó phù hợp với đại đa số người tiêu dùng.

SAS (Serial Attached SCSI) là tiêu chuẩn giao tiếp có tốc độ truyền tải dữ liệu gần nhanh nhất hiện nay, ra đời sau tiêu chuẩn giao tiếp SATA nhưng lại mang nhiều tính năng vượt trội hơn. Tiêu chuẩn giao tiếp SAS là tiến trình phát triển song song của tiêu chuẩn giao tiếp SCSI theo kiểu điểm đến điểm – point to point giao tiếp nối ngoại vi, trong đó các bộ điều khiển được liên kết trực tiếp tới ổ đĩa. Tiêu chuẩn giao tiếp SAS được cải tiến hiệu suất cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn giao tiếp SCSI truyền thống, cho phép nhiều thiết bị (hơn 128 thiết bị) với các kích cỡ khác nhau được kết nối đồng thời vào cáp – cable mỏng hơn và lâu hơn. Tiêu chuẩn giao tiếp SAS có thể quản trị những file dữ liệu khổng lồ lên tới 32.768 biến và số lượng bản ghi phụ thuộc vào kích cỡ của ổ đĩa cứng. Ưu điểm này có thể làm đơn giản hoá khi tổ chức, xử lý và phân tích 1 khối lượng lớn dữ liệu khi dữ liệu chỉ được chứa trong 1 file .Ngoài mục đích cải thiện lưu trữ, tiêu chuẩn giao tiếp SAS còn rất năng động trong lĩnh vực quản trị dữ liệu, cho phép người dùng thao tác dữ liệu 1 cách dễ dàng. Với sức mạnh của mình, tiêu chuẩn giao tiếp SAS còn có thể làm việc với nhiều file dữ liệu cùng 1 lúc làm giảm cấp độ phức tạp trong việc chuẩn bị dữ liệu đối với những nhiệm vụ phân tích đòi hỏi phải làm việc với nhiều file dữ liệu cùng 1 lúc.Tuy nhiên, số lượng người dùng tiêu chuẩn giao tiếp SAS còn chưa được nhiều so với tiêu chuẩn giao tiếp SATA bởi giá thành sản phẩm còn cao. Ngoài ra, để tận dụng được hết sức mạnh của tiêu chuẩn giao tiếp SAS  thì người dùng cũng phải mất nhiều thời gian để học và hiểu được cách thức quản trị dữ liệu của SAS và nhiều nhiệm vụ quản trị phức tạp khác

Non-Volatile Memory Express – NVMe là 1 trong những tiêu chuẩn giao tiếp mới nhất, cho khả năng kết nối các ổ đĩa cứng trực tiếp qua cổng kết nối thiết bị ngoại vi PCI Express, để truyền dữ liệu và việc kết nối qua tiêu chuẩn giao tiếp PCI Express này có thể khiến việc đọc và ghi dữ liệu trên những chiếc ổ cứng tiêu chuẩn giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVM Express nhanh hơn tất cả các chuẩn kết nối giao thức SATA/SAS hiện hành

Các ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non-Volatile Memory Express – NVMe của Oracle có độ trễ truyền dữ liệu thấp hơn nhiều và băng thông truyền dữ liệu cao hơn nhiều so với các ổ đĩa giao tiếp SAS-3 truyền thống do thực tế các ổ đĩa này kết nối trực tiếp tới 4 lanes của giao tiếp kết nối thiết bị ngoại vi tốc độ cao (PCI Express – PCIe) Gen3 với băng thông tổng hợp là 32 Gb/giây so với 12 Gb/ giây của ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) tiêu chuẩn giao tiếp SAS-3 truyền thống.

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể được cấu hình với 4 ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVMe định dạng (small form factor – SFF) của Oracle hỗ trợ lên tới 6,4 TB dung lượng lưu trữ trên Phương tiện lưu trữ tốc độ cao – flash.

Công nghệ lưu trữ flash hiện tại rất nhạy cảm với nhiệt độ nên hầu hết các Phương tiện lưu trữ tốc độ cao – flash hiệu suất cao đều được kích hoạt để điều tiết tốc độ I/O khi nhiệt độ gia tăng để tự bảo vệ khỏi bị hư hỏng. Mặt khác, ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) tiêu chuẩn giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVMe của Oracle bao gồm nhiều bộ cảm biến nhiệt độ được giám sát bởi Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP) và công cụ phần mềm Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 để đảm bảo ổ đĩa được duy trì ở nhiệt độ hoạt động tối ưu. Công cụ phần mềm Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) điều chỉnh tốc độ quạt để đảm bảo đủ làm mát cho hệ thống có được hiệu năng tối đa trong mọi thời điểm. Lợi ích của việc này là hệ thống luôn hoạt động ổn định với hiệu năng tối đa trong toàn bộ phạm vi giải nhiệt độ hoạt động của máy chủ độc lập với cấu hình hệ thống.

Tận dụng năng lực xử lý và triển khai ảo hóa hiệu quả

Với các tổ chức phải đối mặt với chi phí CNTT đang ngày càng gia tăng lên thì điều quan trọng là có thể thực thi được nhiều hơn với chi phí ít hơn. Công nghệ ảo hóa là nền tảng của cơ sở hạ tầng của giải pháp điện toán đám mây riêng tư – private cloud và máy chủ như là cơ chế hợp nhất cho các khối lượng tải ứng dụng không đồng nhất. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là nền tảng lý tưởng cho ứng dụng các công nghệ ảo hóa máy chủ, cung cấp khả năng tận dụng tối đa năng lực của từng máy chủ khi có thể đồng thời tối đa hóa dung lượng bộ nhớ, hoạt động I/O và mật độ tính toán.

Các nền tảng ảo hóa tốt nhất sẽ cho phép có mật độ máy chủ ảo hóa cao (virtual machine – VM) trong khi vẫn có thể cung cấp khả năng di chuyển ứng dụng trực tuyến – live migration nhanh, cấp độ tin cậy cao và hiệu năng cao. Không chỉ có 1 phương pháp ước tính quan trọng duy nhất để ước tính mật độ máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) là mật độ lõi vi xử lý – cores mà còn có rất nhiều yếu tố khác như dung lượng bộ nhớ, băng thông bộ nhớ và băng thông I/O – đều quan trọng không kém trong việc xác định số lượng máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) có thể được hợp nhất trên 1 máy chủ vật lý.

Các môi trường máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) quy mô lớn phụ thuộc khá nhiều vào băng thông I/O và độ trễ truyền dữ liệu của mạng để có thể di chuyển các máy chủ ảo (virtual machine – VM) để cân bằng tải cũng như cho các kịch bản kết nối chuyển đổi dự phòng. Các khe cắm I/O có thể được cấu hình cho các thiết bị mạng có độ trễ truyền dữ liệu thấp với băng thông rộng như thiết bị chuyển mạch tích hợp InfiniBand. Kết hợp với Mạng ảo hóa của Oracle – Oracle Virtual Networking, các tổ chức người dùng có thể nhận được lợi ích to lớn từ các tỷ lệ hợp nhất máy chủ cao khi có thể triển khai và quản trị với cấp độ tin cậy cao số lượng lớn các máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM). Tận dụng được các lợi thế công nghệ của dây dẫn – cable tích hợp của Mạng ảo hóa của Oracle – Oracle Virtual Networking cùng kết hợp với các bộ công cụ quản trị toàn diện như Oracle Fabric Manager và Oracle Enterprise Manager 12c có thể cho phép người dùng nhận được nhiều lợi ích khi có thể đơn giản hóa công việc quản trị các cơ sở hạ tầng ảo hóa.

Bằng cách cho phép triển khai nhiều máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) trên mỗi máy chủ vật lý, các tổ chức người dùng có thể tiết giảm chi phí vận hành với số lượng máy chủ vật lý ít hơn. Điều này cũng có nghĩa là số lượng bản vá ít hơn, các hoạt động bảo trì ít hơn, số lượng dây dẫn – cable ít hơn và có thể quản trị hệ thống tổng thể dễ dàng hơn. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 đã tạo ra sự cân bằng lý tưởng cho các môi trường ảo hóa: khả năng hợp nhất nhiều máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) cho phép tận dụng cơ sở hạ tầng đơn giản đồng thời cung cấp phương thức hiệu quả về chi phí khi cần phân tải – scale out.

Với băng thông thô – raw I/O hơn 216 GB/giây, kết hợp với mật độ lõi vi xử lý – cores cao và mật độ bộ nhớ cao, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cũng là 1 máy chủ vật lý lý tưởng để hợp nhất các máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) với công nghệ ảo hóa Oracle VM. Với sự cân bằng tối ưu giữa mật độ lõi vi xử lý – cores, bộ nhớ và băng thông I/O, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể dễ dàng được triển khai vào trong các Trung tâm dữ liệu hiện tại như là 1 cấu phần căn bản của giải pháp điện toán đám mây riêng tư – private cloud hoặc triển khai giải pháp cơ sở hạ tầng như 1 dịch vụ (infrastructure-as-a-service – IaaS). Khi kết hợp với Oracle Fabric Interconnect và Oracle Software define network – Oracle SDN, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 sẽ tích hợp được số lượng nhiều nhất các máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) trên mỗi rack trong toàn ngành công nghiệp trong khi vẫn có thể cho phép di chuyển trực tuyến – live migration nhanh và hợp nhất tiết kiệm được nhiều dây dẫn – cable cho phép giảm được hơn 70 % cấp độ phức tạp của I/O và giảm được hơn 50 % chi phí đầu tư.

Các thách thức của mật độ tính toán

Các kiến ​​trúc sư CNTT ngày nay đang phải thường xuyên đối mặt với những thách thức của việc gia tăng mật độ tính toán với giảm thiểu chi phí cho bảo trì, gia tăng cấp độ chịu tải và cấp độ tin cậy. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được thiết kế với cách thức tiếp cận toàn diện khi nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa các thành phần công nghệ phần cứng và các thành phần công nghệ phần mềm hệ thống – firmware để làm việc tốt nhất cùng với nhau. Thiết kế tích hợp toàn diện này cho phép Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cải thiện hiệu năng đáng kể so với các thế hệ công nghệ trước trong khi vẫn giữ nguyên cấp độ tiêu hao điện năng. Cụ thể, thiết kế của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cho phép tối đa hóa hiệu suất, cung cấp sự kết hợp tốt nhất của năng lực xử lý với mật độ các thành phần công nghệ khiến cho Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là phù hợp đế triển khai luôn vào trong các Trung tâm dữ liệu đang hiện có và/hoặc xây dựng Trung tâm dữ liệu mới.

Không chỉ tối ưu hóa mật độ tính toán và mật độ bộ nhớ, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 còn cung cấp băng thông I/O và khả năng gia tăng cấp độ chịu tải cực kỳ cao theo yêu cầu của các khối lượng tải ứng dụng ảo hóa quy mô lớn của tổ chức người dùng để cho phép hợp nhất các hoạt động I/O cường độ cao trên các máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM), chẳng hạn như CSDL Oracle và các ứng dụng, mà không ảnh hưởng đến hiệu năng tổng thể của hệ thống.

Phát minh công nghệ để nâng cao cấp độ Tin cậy, cấp độ Sẵn sàng và cấp độ dễ dàng cho Bảo trì (Reliability, Availability, and Serviceability – RAS)

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là thiết kế của duy nhất 1 nhà sản xuất từ khi bắt đầu đến khi hoàn thiện và được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa để có thể dễ dàng được bảo trì trong khi tối đa hoá được cấp độ tin cậy. Các kỹ sư của Oracle quan tâm đặc biệt đến thiết kế khung máy – chassis để có thể bổ sung các tính năng đặc biệt cho phép cải thiện đượchiệu năng trong khi cũng vẫn có thể cải thiện được cấp độ tin cậy và cấp độ dễ dàng cho bảo trì. Các kỹ sư của Oracle đã thiết kế 1 quy trình kiểm tra nghiêm ngặt cho tất cả các thành phần công nghệ của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 chẳng hạn như module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (dual in linememory module – DIMM), ổ đĩa cứng (hard disk drives – HDD), nguồn điện và nhiều hơn thế nữa. Các kiểm tra bảo đảm chất lượng này bổ sung cho những kiểm thử do các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng – supply chain đã tiến hành trước đó. Tất cả các thành phần công nghệ của hệ thống đều phải vượt qua được những kiểm tra này trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được định hướng thiết kế để nâng cao cấp độ Tin cậy, cấp độ Sẵn sàng và cấp độ dễ dàng cho Bảo trì (Reliability, Availability, and Serviceability – RAS)

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được thiết kế để cho thời gian hoạt động tối đa với các tính năng sẵn sàng cao dành cho các hệ thống ứng dụng quy mô lớn. Tất cả các ổ đĩa đều có khả năng tráo đổi nóng – hot swappable và hỗ trợ RAID 0, 1, 5, 6, 10, 50 và 60. Bộ điều khiển RAID được thiết kế có bộ nhớ đệm tốc độ cao – cache dung lượng 1 GB chuyên biệt cho ghi và sử dụng 1 module lưu trữ năng lượng để lưu dữ liệu trong Phương tiện lưu trữ tốc độ cao – flash khi xảy ra sự cố ngắt điện máy chủ. Module  lưu trữ năng lượng này nằm ở 1 vị trí đặc biệt trong máy chủ để đảm bảo có thể bảo vệ việc ghi lại dữ liệu trên bộ nhớ đệm tốc độ cao – cache trong tất cả các điều kiện hoạt động của máy chủ. Nguồn cung cấp và quạt làm mát cũng được thiết kế dư thừa và có thể tráo đổi nóng – hot swappable, đảm bảo rằng lỗi của bất kỳ thành phần công nghệ nào cũng không ảnh hưởng đến hệ thống đang vận hành. Với 2 nguồn cấp điện – power supplies, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cho cấp độ dự phòng năng lượng N + N.

Quản  lỗi và chẩn đoán lỗi

Cấp độ Tin cậy, cấp độ Sẵn sàng cao và cấp độ dễ dàng cho Bảo trì (Reliability, availability, and serviceability – RAS) là rất quan trọng đối với những tổ chức người dùng yêu cầu hệ thống có cấp độ Sẵn sàng cao tối đa khi thực thi các ứng dụng tối quan trọng. Nếu để lỗi xảy ra trong 1 máy chủ, doanh thu có thể bị mất và phải tiêu tốn rất nhiều thời gian cũng như nỗ lực rất nhiều để có thể để gỡ lỗi và chờ đợi các thành phần công nghệ được thay thế – replacement parts và nhân viên phục vụ để thay thế các thành phần công nghệ bị lỗi.

Với cấp độ tích hợp cao hơn của nhiều tiểu hệ thống khác nhau trong máy chủ sẽ càng trở nên phức tạp hơn để chẩn đoán lỗi đến cấp độ từng thành phần công nghệ. 1 yếu tố quan trọng để có được cấp độ dễ dàng cho Bảo trì – serviceability được đưa vào xem xét trong thiết kế của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 là tính năng tự động chẩn đoán lỗi với khả năng xác định chính xác các thành phần công nghệ bị lỗi.

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 bao gồm công cụ quản lý lỗi và các công cụ chẩn đoán được tích hợp sẵn giúp tăng cấp độ sẵn sàng của hệ thống và cho phép thời gian đáp ứng dịch vụ nhanh hơn để làm tăng được thời gian hoạt động của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được tích hợp sẵn công cụ phần mềm Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM), có chức năng giám sát tiên tiến trạng thái hoạt động của môi trường vận hành máy chủ (năng lượng và làm mát), các Bộ vi xử lý – CPUs và các tiểu hệ thống bộ nhớ. Công cụ chẩn đoán tiên tiến cư trú trên phần mềm hệ thống – firmware được nhúng trong Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP) và thường xuyên theo dõi trạng thái của những tiểu hệ thống này mà không làm ảnh hưởng đến các chức năng của Phương tiện lưu trữ – host sẽ tự động tạo ra cảnh báo được trong các trường hợp có sự cố. Được tích hợp trên cơ sở hạ tầng quản trị lỗi, Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) có khả năng tự động khởi tạo yêu cầu dịch vụ (automatic service requests – ASRs) với một số các thông tin quan trọng được thu thập trước cho chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật của Oracle sử dụng. Việc giảm thiểu hoặc thậm chí loại bỏ sự can thiệp của người dùng vào quá trình khởi tạo yêu cầu dịch vụ sẽ nâng cao tính chính xác của các cảnh báo sự cố cho Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật của Oracle.

Trên 1 máy chủ điển hình, Hệ điều hành của máy chủ lưu trữ – host và Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP) có các tiểu hệ thống riêng biệt (mặc dù đôi khi cũng có thể chồng chéo nhau) để quản trị. Hệ điều hành của máy chủ lưu trữ – host có quyền sở hữu với các Bộ vi xử lý – CPU, bộ nhớ và các tiểu hệ thống I/O trong khi Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP) nắm quyền điều khiển tối cao các quạt làm mát, nguồn cung cấp điện – power supplies, module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM) và các thành phần công nghệ khác của khung máy – chassis và vì những lý do này, các quản trị Trung tâm dữ liệu thường bị bắt buộc theo dõi trạng thái hoạt động của Hệ điều hành máy chủ lưu trữ – host và Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP) như là các thực thể riêng biệt.

Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 vượt qua được những giới hạn trên bằng đường truyền thông 2 chiều, giữa Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) và Hệ điều hành Oracle Solaris hoặc Hệ điều hành Oracle Linux, tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin quan trọng về tình trạng hoạt động giữa máy chủ lưu trữ – host và Bộ vi xử lý dịch vụ (service processor – SP). Có 1 kết nối chuyên dụng giữa Hệ điều hành máy chủ lưu trữ – host và Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) cung cấp cái nhìn toàn cảnh và đơn nhất về tất cả các vấn đề trong hệ thống. Quản trị viên của Trung tâm dữ liệu và quản trị viên của hệ thống có thể dựa vào vào Hệ điều hành và các thành phần công nghệ phần cứng tích hợp để chẩn đoán toàn diện hệ thống, loại bỏ sự cần thiết phải kết nối tới nhiều thực thể quản trị khác nhau.

Hệ điều hành Oracle Solaris và Hệ điều hành Oracle Linux được tích hợp 1 bộ công cụ chẩn đoán các sự cố sẽ sơ bộ khắc phục lỗi trên các thành phần công nghệ phần cứng rồi cung cấp 1 phương pháp tự động và thông minh để chẩn đoán và cách ly lỗi. Các cơ chế này là 1 phần của tính năng Kiến trúc Quản lý lỗi – Fault Management Architecture của Hệ điều hành Oracle Solaris và Hệ điều hành Oracle Linux bao gồm 1 tập hợp các agents để khắc phục các sự cố, chẳng hạn như ngắt điện cách ly – off-lining 1 Bộ vi xử lý – CPU bị lỗi hoặc giải phóng 1 trang bộ nhớ trên 1 module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM). Các tính năng tự khắc phục lỗi tiên tiến giúp giảm thiểu thời gian dừng hệ thống không theo kế hoạch bằng cách cách ly 1 sự cố được phát hiện khi ứng dụng thực thi – runtime và giữ cho các ứng dụng được tiếp tục thực thi.

Thực thi các Hệ điều hành Oracle Linux hoặc Hệ điều hành Oracle Solaris trên Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể đảm bảo cấp độ sẵn sàng cao của hệ thống tối đa bằng cách cung cấp các cảnh báo sớm về các lỗi tiềm ẩn, khả năng hiển thị lỗi và năng động ngắt điện cách ly – off-lining các thành phần công nghệ phần cứng bị lỗi.

Tất cả các chức năng đã nêu trên này đều được tích hợp sẵn và miễn phí.

Bảng 1: những lợi ích của việc thực thi các Hệ điều hành Oracle Solaris và Hệ điều hành Oracle Linux trên Oracle SUN Server Intel x86 X5-4

Các Hệ thống Oracle SUN Server Intel x86, Hệ điều hành Oracle Linux cùng với các phần mềm của Oracle được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa để làm việc cùng với nhau

Oracle đầu tư rất nhiều vào nghiên cứu, phát triển và bảo đảm chất lượng cho Hệ điều hành Oracle Linux của chính mình. Không chỉ nhiều người dùng đã lựa chọn Hệ điều hành Oracle Linux để hỗ trợ thực thi các ứng dụng tối quan trọng của họ, mà Hệ điều hành Oracle Linux cũng còn là nền tảng phát triển chính cho Oracle’s Database, phần mềm lớp giữa – middleware và phần mềm ứng dụng của Oracle. Hơn 175.000 lượt cài đặt Hệ điều hành Oracle Linux đã được triển khai trên cả các máy chủ vật lý và các máy chủ ảo hóa là minh chứng cho tính phổ dụng của Hệ điều hành này..

Hệ điều hành Oracle Linux nhận được hơn 128.000 giờ kiểm tra CSDL và ứng dụng mỗi ngày, làm cho phần mềm Oracle trở nên đáng tin cậy hơn. Ngay cả trước khi có đánh giá chính thức, Hệ điều hành Oracle Linux là nền tảng cơ bản đã được các nhà phát triển phần mềm chứng minh các chức năng hoạt động, chất lượng và tính khả thi của phần mềm. Ngoài ra, Hệ điều hành Oracle Linux tích hợp Oracle’s Unbreakable Enterprise Kernel là 1 tính năng cụ thể được tối ưu hóa đặc biệt để nhằm thực thi các phần mềm Oracle đạt được hiệu năng cao nhất.

Các kỹ sư của Oracle kiểm thử chuyên sâu Unbreakable Enterprise Kernel trên nhiều lớp Oracle’s Database, phần mềm lớp giữa – middleware và các phần mềm ứng dụng của Oracle trên Oracle SUN Server Intel x86 và các Hệ thống hiệu năng cao được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa từ nhà máy – Oracle Engineered Systems để đảm bảo là các hệ thống được tối ưu hóa để thực hiện các chức năng. Kiểm thử chuyên sâu này cũng nhằm đảm bảo cho sự kết hợp của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 với Hệ điều hành Oracle Linux có thể cung cấp 1 máy chủ có cấp độ tin cậy cực kỳ cao, mạnh mẽ và hiệu năng cao cho các ứng dụng CSDL và các ứng dụng quy mô lớn.

Để hợp lý hóa quá trình cài đặt Hệ điều hành Oracle Linux và Hệ điều hành Oracle Solaris, Oracle cung cấp Oracle System Assistant là 1 công cụ phần mềm hướng dẫn thuật sĩ – wizard-style để hỗ trợ từng bước triển khai cài đặt máy chủ. Ngoài việc cài đặt Hệ điều hành, Oracle System Assistant còn cập nhật firmware, trình điều khiển, cấu hình RAID và Oracle Integrated Lights Out Manager (Oracle ILOM) – tất cả đều nhằm nâng cao hiệu quả của việc triển khai máy chủ.

Công nghệ ảo hóa Oracle VM

Oracle cung cấp ứng dụng phần mềm dùng để chạy nhiều máy chủ ảo hóa trên 1 hệ thống – hypervisor đẳng cấp cao và nền tảng cho ảo hóa được gọi là phần mềm ảo hóa Oracle VM. Phần mềm ảo hóa Oracle VM Server được tối ưu hóa để thực thi tốt nhất trên phần cứng của Oracle thông qua các cải tiến ở tận cấp độ nhân của Hệ điều hành – kernel, cụ thể là phần mềm ảo hóa Oracle VM đã được nghiên cứu, phát triển, thiết kế để làm việc tốt nhất với số lượng Bộ vi xử lý – CPU lớn và dung lượng bộ nhớ lớn như cấu hình của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4. Ngoài ra, phần mềm ảo hóa Oracle VM và Hệ điều hành Oracle Linux đã được nghiên cứu, phát triển, thiết kế để tối ưu hóa với chuẩn giao tiếp 10 gigabit Ethernet (GbE), cải thiện hiệu năng của thiết bị chuyển mạch giao tiếp InfiniBand và hoạt động I/O, thiết kế block-layer để cải thiện cho cả phương tiện lưu trữ tốc độ cao flash và phương tiện lưu trữ từ tính – magnetic nhằm gia tăng cải thiện hiệu năng và cấp độ tin cậy cho ứng dụng.

Phần mềm ảo hóa Oracle VM Server cũng đã được kiểm thử để làm tốt nhất cùng với các hệ thống máy chủ Intel x86 của Oracle để tạo thành nền tảng cho giải pháp điện toán đám mây công cộng Oracle Public Cloud, các máy chủ Oracle VM và Oracle Intel x86 phải chịu sự kiểm tra cường độ cao mỗi ngày trong môi trường vận hành thực – production và hoạt động như là các cấu phần cơ bản của cơ sở hạ tầng cho 5.5 triệu người dùng giải pháp điện toán đám mây Oracle Public Cloud.

Hypervisor là 1 ứng dụng phần mềm dùng để chạy nhiều máy chủ ảo hóa trên 1 hệ thống. Hypervisor chịu trách nhiệm khởi tạo, duy trì, truy cập hệ thống. Có loại hypervisor thì chạy trên Hệ điều hành (HĐH), có loại hypervisor thì chạy bên dưới HĐH và trực tiếp tương tác với tài nguyên phần cứng (Bộ vi xử lý – processor, RAM, hay network interface card – NIC ).

Hypervisor Type 1 (Bare Metal Hypervisor): chạy trên phần cứng máy chủ (server), nó có nhiều quyền điều khiển phần cứng hơn (host hardware), do đó cung cấp hiệu suất và khả năng bảo mật tốt hơn

Hypervisor Type 2 (Hosted Hypervisor): chạy trên Hệ điều hành (HĐH) như 1 ứng dụng được cài đặt trên Server. Trên môi trường Hosted hypervisor, các máy ảo khách (những máy ảo được cài đặt trên máy thật thì gọi là guest virtual machine) chạy trên lớp Hypervisor. Hosted hypervisor lấy tài nguyên do HĐH Host cung cấp rồi quản lý, phân chia các tài nguyên này.

Ưu điểm của Hosted Hypervisor là: cài đặt dễ dàng (vì chỉ là 1 ứng dụng trên HĐH)

Khuyết điểm của Hosted Hypervisor là:

+ Ít quyền điều khiển hơn so với Bare Metal Hypervisor (vì phải phụ thuộc vào nhân của Hệ điều hành – kernel)

+ Không có khả năng truy cập trực tiếp vào tài nguyên phần cứng như Bare Metal Hypervisor nên làm tăng phí tổn cho Hypervisor (Bare Metal Hypervisor tận dụng được tối đa tài nguyên có trên Server tốt hơn Hosted Hypervisor)

Các hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể nhanh chóng cung cấp các môi trường phần mềm của Oracle bằng cách sử dụng Oracle VM Templates như là cách tiếp cận sáng tạo để cho phép triển khai 1 tầng công nghệ phần mềm – software layer được cấu hình hoàn chỉnh khi có thể cung cấp images của các môi trường phần mềm đã được cài đặt sẵn và cấu hình sẵn. Tận dụng Oracle VM Templates sẽ loại bỏ được chi phí cài đặt và cấu hình, giảm được chi phí bảo trì, trợ giúp các tổ chức người dùng có thể đáp ứng được các nhu cầu tác nghiệp, vận hành nhanh chóng hơn cũng như giảm được chi phí hoạt động. Oracle VM Templates sẵn có cho nhiều sản phẩm phần mềm chính của Oracle để tải về, bao gồm Hệ điều hành Oracle Linux, Hệ điều hành Oracle Solaris, Oracle Database, phần mềm lớp giữa – Oracle Fusion Middleware và có thể nhiều hơn thế nữa.

 System Image là 1 bản sao toàn diện của ổ đĩa hệ thống, bao gồm tất cả các tập tin, chương trình, trình điều khiển và những thiết lập hệ thống. Đây là tiện ích rất hữu ích khi máy tính gặp sự cố như lỗi phát sinh khi chạy ứng dụng, các lỗi khi khởi động…mà cần được phục hồi hoàn chỉnh hệ điều hành. Do có thể lưu tập tin hình ảnh hệ thống – System Image tại vị trí đang lưu dữ liệu (mà không phải ổ đĩa hệ thống) nên rất quan trọng khi có thể tạo ra được 1 tập tin hình ảnh hệ thống – System Image khi hệ thống vẫn còn “sạch sẽ” hay nói cách khác là nên tạo sau ngay sau khi mới cài đặt Hệ điều hành – điều này cũng có lợi vì lúc đó tập tin hình ảnh hệ thống – System Image tạo ra có dung lượng nhỏ và cho phép khôi phục hệ thống nhanh hơn hoặc tất nhiên cũng có thể cài đặt toàn bộ các chương trình cần thiết rồi mới khởi tạo tập tin hình ảnh hệ thống – System Image System Image và quá trình phục hồi này sẽ chậm hơn nhưng sẽ có đầy đủ các tiện ích. Lưu ý rằng tiện ích System Image sẽ tạo ra bản sao chính xác những thông tin hiện tại nên sau khi truy cập vào đây để khôi phục lại hệ thống thì mọi thông tin sau thời gian tạo ra tập tin hình ảnh hệ thống – System Image sẽ bị xóa bỏ.

Mật độ bộ nhớ cực cao

Có thể lên tới 3 TB dung lượng bộ nhớ, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể cung cấp trung bình trên 40 GB dung lượng bộ nhớ cho mỗi lõi vi xử lý – cores và khi các CSDL, các ứng dụng quy mô lớn đang bắt đầu yêu cầu tối thiểu 32 GB hoặc 64 GB RAM cho mỗi máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) thì khả năng cung cấp dung lượng bộ nhớ lớn hơn đang ngày càng trở nên quan trọng, bởi vì với tỷ lệ cao hơn của dung lượng bộ nhớ cho mỗi lõi vi xử lý – cores, hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cho phép hợp nhất tối ưu các máy chủ ảo hóa (virtual machine – VM) lớn hơn cũng đang đòi hỏi nhiều dung lượng bộ nhớ hơn.

Giả sử có tới 14 hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 trong 1 rack tiêu chuẩn 42U thì dung lượng bộ nhớ tối đa lên tới 42 TB.

Băng thông bộ nhớ cao hơn
So với Bộ vi xử lý Intel E5-4600 v2, Bộ vi xử lý Intel E7-8800 v3 có băng thông bộ nhớ trên mỗi khe cắm – socket Bộ vi xử lý – CPU cao hơn 45% nên có thể mang lại hiệu năng tốt nhất cho các khối lượng tải ứng dụng đòi hỏi dung lượng bộ nhớ cực lớn để thực thi trong các môi trường ảo hóa. Băng thông bộ nhớ cao nghĩa là các ứng dụng có thể khởi động và thực thi nhanh hơn, các CSDL và các ứng dụng quy mô lớn khác của người dùng sẽ ít bị tắc nghẽn hiệu năng – bottlenecks trên thành phần công nghệ bộ nhớ.   

Tối đa hoá hoạt động I/O

Kiến ​​trúc của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cho phép hỗ trợ đáp ứng yêu cầu tăng trưởng họat động I/O của các môi trường ảo hóa và các ứng dụng quy mô lớn của người dùng. Mỗi hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 bao gồm 9 khe cắm PCIe Gen3 8-lane, 2 khe cắm PCIe Gen3 16-lane và 4 cổng Ethernet 10GBase-T. Các khe cắm kết nối thiết bị ngoại vi tiêu chuẩn giao tiếp PCIe có thể được cấu hình với 16 Gb Fibre Channel, QDR dual-port InfiniBand (active-active) và cable đồng hoặc cable quang – fiber channel 10 GbE, cho phép cung cấp băng thông I/O cực kỳ năng lực và linh hoạt.

Ngoài ra, trong Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 thì các Bộ vi xử lý Intel Xeon E7-8895 v3 được thiết kế với kết nối dạng hỗn hợp hoàn toàn (full mesh) giữa các Bộ vi xử lý, kết nối không bao giờ nhiều hơn 1 bước nhảy – hop giữa bất kỳ Bộ vi xử lý nào cho phép giảm thiểu độ trễ I/O và cho hiệu năng I/O tối đa.

Dạng hỗn hợp (mesh): 1 số mạng lớn và phức tạp thường phối hợp nhiều kiến trúc mạng lại với nhau. Ngoài ra, để tạo các kết nối dự phòng, và tạo ra nhiều đường đi cho các gói tin nhằm tăng tốc hệ thống mạng, các điểm mạng sẽ được kết nối chằng chịt qua lại. Kiến trúc mạng mà trong đó các điểm mạng đều có kết nối với tất cả các điểm khác thì được gọi là dạng hỗn hợp hoàn toàn (full mesh). Nếu chỉ có 1 số điểm kết nối đầy đủ, còn các điểm khác kết nối theo các dạng thông thường thì gọi là dạng hỗn hợp 1 phần (partial mesh).

Phần Mềm thiết lập Mạng toàn diện

Khi kết hợp với Oracle Virtual Networking, Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể cung cấp khả năng ảo hóa tích hợp cho các tài nguyên tính toán và các tài nguyên mạng bằng cách mở rộng ranh giới ảo hóa tới bao gồm cả I/O. Cung cấp cơ sở hạ tầng hội tụ, theo đó thông lượng trên mạng và thiết bị lưu trữ có thể được chia sẻ và cân bằng tải trên cùng 1 cơ sở hạ tầng, họ các sản phẩm Oracle Virtual Network cho phép giảm chi phí quản trị vận hành và di chuyển trực tuyến – live migration nhanh hơn khi được sử dụng để xây dựng các giải pháp điện toán đám mây riêng tư – private clouds.

Oracle Fabric Interconnect là 1 phần của họ các sản phẩm Oracle Virtual Networking, sử dụng thiết bị chuyển mạch giao tiếp InfiniBand làm thiết bị kết nối mạng cho phép giảm số lượng dây dẫn – cabling và thúc đẩy tốc độ thông lượng lên tới 64 Gb/giây cho mỗi khe cắm I/O của hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4. Sau khi đã được kết nối, cơ sở hạ tầng của giải pháp điện toán đám mây riêng tư – private cloud của 1 tổ chức có thể được quản trị và phân vùng lại thông qua các tính năng của Phần mềm thiết kế mạng toàn diện (software-defined networking – SDN) có trong họ các sản phẩm Oracle Virtual Networking. Cụ thể, các card giao diện mạng ảo hóa (virtual network interface cards – vNICs) và bộ điều hợp bus ảo hóa (virtual host bus adapters – vHBA được quản trị bởi Hệ điều hành và có thể được cung cấp và di chuyển 1 cách đơn giản mà không phải di chuyển các card hoặc dây dẫn – cables vật lý.

Oracle Virtual Networking được triển khai với thiết bị chuyển mạch giao tiếp InfiniBand, cho phép di chuyển trực tuyến – live migrations diễn ra trên 1 tầng giao vận có băng thông rộng hơn và độ trễ truyền dữ liệu thấp hơn nhanh hơn gần 19 lần so với di chuyển trực tiếp – live migrations được thực hiện trên mạng Ethernet truyền thống. Hơn nữa, Oracle Virtual Networking có thể cung cấp khả năng quản trị chất lượng dịch vụ tinh vi đảm bảo đáp ứng được thông lượng mạng và lưu trữ theo yêu cầu cho các máy ảo nhất định.

Công nghệ Elastic Computing trong Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 cho phép thiết lập,  khởi động  và  dự  phòng tài nguyên cho các  ứng dụng ảo  hóa 1  cách  đơn giản  vào  bất cứ  khi nào

Oracle và Intel đã cùng nhau nghiên cứu, phát triển, thiết kế 1 mã sản phẩm (Stock Keeping Unit – SKU) độc đáo là Bộ vi xử lý Intel Xeon E7-8895 v3. Bộ vi xử lý này có tần số hoạt động cao nhất là 2,6 GHz trên bất kỳ 18 core E7-88xx v3 SKU nào. Được nghiên cứu, phát triển, thiết kế bởi Oracle và Intel như 1 phần của thế hệ Bộ vi xử lý Intel Xeon E7-88xx v2, Bộ vi xử lý Intel Xeon E7-8895 v3 có các tính năng ảo hóa linh hoạt – elastic được cải tiến.

 Công nghệ Elastic Computing cho phép người dùng cấu hình mỗi khe cắm – socket Bộ vi xử lý – CPU của máy chủ thông qua 1 trong 18 lõi vi xử lý, thông qua công nghệ Turbo Boost để cho phép người dùng có thể điều chỉnh giữa số lõi vi xử lý được kích hoạt và tần số hoạt động tối đa. Các tổ chức cũng có thể tùy chọn thực thi với số ít lõi vi xử lý hơn nhưng ở tần số cao hơn hoặc số lớn lõi vi xử lý hơn nhưng ở tần số thấp hơn. Việc thiết lập số lõi vi xử lý mong muốn có thể được tùy chọn tại menu BIOS là nơi nó được cấu hình tĩnh và hệ thống cần phải được khởi động lại để thay đổi thiết lập này. Đối với các cấp độ năng động cao hơn về kiểm soát số lõi vi xử lý, các Hệ điều hành Oracle Solaris và Hệ điều hành Oracle Linux có khả năng tùy chọn số lượng lõi vi xử lý mong muốn trong thời gian thực thi các ứng dụng để cho phép người dùng chuyển đổi năng động giữa các thời điểm hoạt động khác nhau của hệ thống mà không cần phải khởi động lại hệ thống. Tính năng này đặc biệt hữu ích khi khối lượng tải ứng dụng cần phải chuyển sang chế độ xử lý hàng loạt – batch mode (ít lõi vi xử lý với tần số hoạt cộng cao) từ chế độ yêu cầu thông lượng cao – high through put mode (nhiều lõi vi xử lý ) trong khi vẫn có thể giữ lại dữ liệu trong bộ nhớ.

Công nghệ Turbo boost cho phép có thể tự động điều chỉnh xung nhịp từng lõi vi xử lý – cores độc lập cho phù hợp với nhu cầu xử lý.

Công nghệ Turbo Boost có thể nâng cao hiệu năng cho Bộ vi xử lý – CPU hoặc cũng có thể tiết kiệm năng lượng bằng cách giảm xung nhịp của Bộ vi xử lý – CPU khi thực thi các ứng dụng không cần nhiều năng lực xử lý của Bộ vi xử lý – CPU.

Không phải Bộ vi xử lý – CPU Intel nào cũng được tích hợp công nghệ Turbo Boost mà Công nghệ Turbo Boost thường được tích hợp từ các dòng Bộ vi xử lý – CPU Intel Core i5 và Core i7

Thiết kế hệ thống

Thiết kế phần cứng của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 đã được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa từ cấp độ sơ khởi đến cấp độ hoàn thiện cho việc thực thi tốt nhất các phần mềm Oracle. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4  được thiết kế để tối đa hóa số khe cắm module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM) trên 1 khe cắm – slots Bộ vi xử lý – CPU, đồng thời có độ trễ truyền dữ liệu thấp nhất có thể giữa các thành phần công nghệ. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 có thể được thiết kế với cấu hình 2 khe cắm – slots Bộ vi xử lý – CPU hoặc 4 khe cắm – slots Bộ vi xử lý – CPU, với mỗi khe cắm – slots Bộ vi xử lý – CPU có thể gắn lên tới 24 module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM).

Hình 4. Thiết kế hệ thống của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4  

Sơ đồ khối trong Hình 4 cho thấy các kết nối trực tiếp (QuickPath Interconnect – QPI) của từng Bộ vi xử lý – CPU (P1-P4) với nhausao cho không có nhiều hơn 1 bước kết nối – hop giữa các Bộ vi xử lý – CPU để có được độ trễ truyền dữ liệu thấp nhất có thể cho 1 Bộ vi xử lý – CPU khi truy cập đến bộ nhớ hoặc thiết bị I/O được gắn trên 1 Bộ vi xử lý – CPU khác.

Mỗi Bộ vi xử lý – CPU có tổng cộng 4 liên kết bộ nhớ có thể gia tăng (scalable memory interconnect–2 – SMI-2) kết nối tới 2 memory risers. Mỗi memory risers có 12 khe cắm module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM) cho tổng số lên tới 24 khe cắm module bộ nhớ nội tuyến kênh đôi (Dual In-line Memory Module – DIMM) cho mỗi Bộ vi xử lý – CPU. Bộ nhớ được truy cập thông qua 1 bộ đệm được tích hợp trên bảng mạch – buffer-on-board trong memory risers card.

 Các kết nối I/O được phân tán trên 4 Bộ vi xử lý – CPU. Khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe 1-4 được kết nối với Bộ vi xử lý – CPU 0, với khe cắm 2 được chỉ định cho bộ điều khiển lưu trữ – storage controller HBA. Các khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe 5 và 6 được kết nối với Bộ vi xử lý – CPU 1, cũng như tới 4 card giao tiếp mạng (network interface card – NIC) giao tiếp 10GBase-T được tích hợp trên bảng mạch – onboard. Chỉ trong biến thể cấu hình 4 khe cắm – socket Bộ vi xử lý – CPU, các khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe 7 và 8 được kết nối với Bộ vi xử lý – CPU 2, các khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe 9 đến 11 được kết nối với Bộ vi xử lý – CPU 3. Khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe 1 sẽ chứa card chuyển đổi NVMe – PCIe khi hệ thống được cấu hình với tùy chọn này. Trong cấu hình 2 khe cắm – socket Bộ vi xử lý – CPU, các khe cắm tiêu chuẩn giao tiếp PCIe từ 7 đến 11 không thể được sử dụng.

Riser card là 1 loại card dùng để chuyển 1 kết nối trên mainboard thành 1 hoặc nhiều kết nối có trên card. Phổ biến là các loại riser card kết nối thông qua cổng kết nói thiết bị ngoại vi giao tiếp PCI.

Riser card thường được sử dụng khi kích thước của hệ thống máy tính bị hạn chế cho việc nâng cấp thêm các thiết bị theo chiều vuông góc với bảng mạch chủ (thường là các loại chassis 1U, 2U), khi đó riser card sẽ có chức năng chuyển hướng cổng kết nói thiết bị ngoại vi giao tiếp PCI từ vuông góc thành song song với bảng mạch chủ.  

Giao diện điều khiển toàn diện hệ thống duy nhất – Single Pane of Glass Management

Oracle Enterprise Manager 12c là 1 bộ công cụ quản trị hệ thống cung cấp giải pháp quản trị với 1 Giao diện điều khiển toàn diện hệ thống duy nhất – Single Pane of Glass Management cho toàn bộ các tầng công nghệ của giải pháp toàn diện – full stack của Oracle. Giải pháp này cho phép các tổ chức quản trị các hệ thống Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 từ tầng công nghệ phần cứng đến các CSDL và ứng dụng đang được thực thi trên chúng.

Oracle Enterprise Manager Ops Center 12c là 1 phần của họ sản phẩm Oracle Enterprise Manager là 1 bộ công cụ quản trị đẳng cấp cao cho phép quản trị viên hệ thống CNTT quản trị toàn diện tất cả các Phương diện của các máy chủ. Ngoài việc cung cấp khả năng giám sát phần cứng và báo cáo chi tiết cho các vấn đề phần cứng, Oracle Enterprise Manager Ops Center còn có thể cung cấp công cụ quản trị các Hệ điều hành được chạy trực tiếp trên phần cứng của máy chủ – bare-metal và cũng như cấu hình ảo hóa.

Oracle Enterprise Manager Cloud Control 12c, cũng là 1 phần của họ sản phẩm Oracle Enterprise Manager, có thể được sử dụng để triển khai các giải pháp điện toán đám mây riêng tư – private clouds trên các máy chủ Oracle SUN Server Intel x86 X5-4. Oracle Enterprise Manager Cloud Control cung cấp giải pháp quản trị toàn bộ vòng đời giải pháp điện toán đám mây cho phép các tổ chức nhanh chóng thiết lập, quản trị và hỗ trợ các môi trường điện toán đám mây đẳng cấp cao và các môi trường CNTT truyền thống củaOracle từ tầng ứng dụng xuống tới ổ đĩa lưu trữ.

Kết luận

Oracle vẫn đang tiếp tục định hướng chiến lược cung cấp các sản phẩm để trợ giúp người dùng đơn giản hóa hệ thống CNTT và giảm chi phí hoạt động. Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 được nghiên cứu, phát triển, thiết kế, tích hợp, tinh chỉnh, tối ưu hóa và đã được thử nghiệm trước cho các khối lượng tải ứng dụng phần mềm Oracle cụ thể. Công nghệ Elastic Computing của Oracle SUN Server Intel x86 X5-4 và của Bộ vi xử lý Intel Xeon E7-8895 v3 được Oracle và Intel cùng nghiên cứu, phát triển, thiết kế cho phép có thể cung cấp các giá trị kinh tế trực tiếp cho người dùng của Oracle. Oracle cũng là nhà sản xuất duy nhất có đầy đủ năng lực công nghệ để cung cấp được giải pháp hoàn thiện từ Hệ điều hành tới CSDL Oracle, với các tính năng công nghệ mới như ổ đĩa trạng thái rắn (Solid State Driver – SSD) dựa trên tiêu chuẩn giao tiếp thế hệ công nghệ mới Non – Volatile Memory Express – NVMe. Ngoài ra, các máy chủ Intel x86 của Oracle cũng là các máy chủ Intel x86 có cấp độ tin cậy và hiệu năng cao nhất trên thị trường, trợ giúp người dùng có thể đơn giản hóa hệ thống CNTT thông qua các phát minh công nghệ.

Chuyên mục: Uncategorized

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *