0978002299

Ngày nay, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của cơ quan nhà nước (CQNN), hướng tới phát triển chính phủ điện tử (CPĐT) là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia.
Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương năm 2016. Ảnh: chinhphu.vnCPĐT là chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, giảm phiền hà, tham nhũng, tiết kiệm chi phí, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương ứng dụng CNTT nhằm cải cách hành chính, hiện đại hóa cơ quan chính phủ, xây dựng một Chính phủ hiệu lực, hiệu quả hơn, thực sự của dân, do dân và vì dân, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế – xã hội. Điều này được thể hiện rõ trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các chương trình về cải cách hành chính của đất nước.Cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển ứng dụng CNTT, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình ứng dụng CNTT trong các CQNN hết sức cụ thể, thiết thực, như: Luật Công nghệ thông tin, Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định vể việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN; Quyết định sô’ 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trìnr quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt dộng của CQNN giai đoạn 2011-2015, Luật An toàn thông tin và Nghị quyết số 36a/NQ- CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về CPĐT.Bộ Thông tin và Truyền thông với chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về CNTT, bêr cạnh việc tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về ứng dụng CNTT, đã oan hành nhiều văn bản hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra các cơ quan nhà nước trong tổ chức triển khai thực hiện ứng dụng CNTT.Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, triển khai các chương trình, kế hoạch của quốc gia về ứng dụng CNTT, các bộ, ngành, địa phuong đã có nhiều nỗ lực triển khai CPĐT và đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể: về cơ sở hạ tầng thông tinThời gian qua, hạ tầng kỹ thuật CNTT ngày càng được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. Số lượng cán bộ, công chức được trang bị máy tính phục vụ công việc ngàv càng tăng, góp phần tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp, tăng năng suất, hiệu quả công việc. Khoảng 90% cán bộ, công chức trong CQNN được trang bị máy tính phục vụ công việc. Hệ thống mạng nội bộ được triểr khai tại tất cả các bộ, ngành, địa phương.Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ auan Đảng, Nhà nước đã dược triển khai xây lựng, kết nối đến cấp sở, ban, ngành, quậr, huyện. Theo thống kê, có 84% các sở, ban. ngành, quận, huyện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được kết nối với mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Công tác bảo đảm an toàn an ninh thông tin được các bộ, ngành, địa phương quan tâm đầu tư hơn. Các bộ, ngành, địa phương đã từng bước trang bị thiết bị, phần mềm đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn, an ninh thông tin như trang bị phần mềm diệt vi rút cho máy tính, các thiết bị tường lửa (Firewall), hệ thống lưu trữ dữ liệu, thiết bị bảo mật và chặn lọc thư rác chuyên dụng.Các cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia làm nền tảng cho phát triển CPĐT đã được xác định trong Quyết định số 1605/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, 02 dự án đã hoàn thành xây dựng CSDL (CSDL quốc gia về thủ tục hành chính trên Internet, CSDL quốc gia kinh tế công nghiệp và thương mại); 01 dự án đang thực hiện đầu tư (CSDL quốc gia vể tài nguyên và môi trường).Về ứng dụng CNTT trong nội bộ của CQNN:Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đã triển khai hệ thống thư điện tử chính thức (tên miền.gov.vn) để trao đổi thông tin, tài liệu qua mạng và hệ thống quản lý văn bản và điều hành phục vụ công việc. Việc triển khai các hệ thống này đã phát huy hiệu quả rõ rệt, tiết kiệm thời gian, chi phí. Ví dụ, nhờ việc sử dụng hệ thống thư điện tử và hệ thống chuyển, nhận văn bản điện tử, thành phố Hà Nội trung bình mỗi ngày tiết kiệm được khoảng 100 triệu đồng; tỉnh Bắc Giang tiết kiệm được hơn 14 tỷ đồng trong năm 2014.Hình thức họp trực tuyến đã được triển khai phổ biến tại các CQNN, bao gồm các cuộc họp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương; cuộc họp giữa các cơ quan thuộc các bộ, ngành, địa phương… dã giúp tiết kiệm chi phí, thời gian tổ chức họp. Với những cuộc họp quy mô quốc gia thực hiện theo hình thức qua mạng tiết kiệm vài tỷ đồng. Ngoài ra, với hình thức này, số lượng và thành phần dự họp có thể tăng lên đáng kể, góp phần phổ biến, triển khai công việc đến các cấp được hiệu quả, nhanh chóng.Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp:Đến nay, 100% các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang/cổng thông tin diện tử đáp ứng nhu cầu tuyên truyền, quản lý, điểu hành của cơ quan nhà nước; nhu cầu tìm hiểu, tra cứu, khai thác thông tin của người dân và doanh nghiệp. Trên trang/cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, các dịch vụ công trực tuyến đã được cung cấp đầy đủ ở mức độ 1, mức độ 2; dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 đang được các cơ quan đầu tư và đưa vào sử dụng với số lượng ngày càng tăng. Các cơ quan tiêu biểu có số lượng hồ sơ tiếp nhận và giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến lớn là: Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh Thừa Thiên-Huế, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thanh Hóa.Tại bộ phận một cửa của các bộ, ngành, địa phương, việc ứng dụng CNTT dã và đang đưọc triển khai ngày càng sâu rộng. Hầu hết các phần mềm và hệ thống triển khai tại bộ phận một cửa đều có khả năng kết nối liên thông theo chiều dọc và theo chiều ngang, cho phép tra cứu thông tin và trạng thái giải quyết hồ sơ qua hệ thống màn hình cảm ứng tại trụ sở CQNN, qua internet, thư điện tử… Điều này làm tăng tính minh bạch trong hoạt động của các CQNN, tạo sự thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp khi giao tiếp với CQNN.Một số ứng dụng chuyên ngành phát huy được hiệu quả rõ rệt, phục vụ tốt cho người dân và doanh nghiệp, đó là: ứng dụng CNTT trorg công tác quản lý thuế (số lượng người kê khai nộp thuế qua mạng là hơn 485.000 và gần 20 triệu hồ sơ thuế điện tử đã nhận vào hệ thống quản lý thuế; ứng dụng CNTT trong công tác hải quan (Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS trên phạm vi toàn quốc được triển khai tại 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố với 100% Chi cục; thời gian đăng ký tờ khai hải quan chỉ còn 3 giây, giải phóng hàng đối với hàng nhập khẩu đã giảm 7,6 giờ (18%); thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp đăng ký tờ khai đến khi quyết định thông quan đối với hàng xuất khẩu giảm 9,6 giờ (58%).Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN vẫn còn những hạn chế. Cụ thể như các ứng dụng CNTT trong CQNN chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, chia sẻ thông tin nên diện rộng; việc điều hành, xử lý công việc qua mạng còn ít; các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanh nghiệp còn chưa nhiều; các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triển CPĐT chậm được triển khai. Ví dụ, hiện nay CSDL quốc gia về dân cư vẫn chưa được xây dựng, đây là CSDL phổ biến nhất, lưu trữ dữ liệu căn bản về người dân, tác động trực tiếp vào mọi mặt của công tác quản lý công dân Việt Nam, gồm công tác quản lý hộ tịch, căn cước, cư trú, lao động, bảo hiểm, y tế, giáo dục. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là cơ sở để triển khai Luật Căn cước công dân, Luật Hộ tịch vừa được ban hanh, cũng là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công Đề án tổng thể đơn giản thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các csDL liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020.Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: một số lãnh đạo các cấp chưa thực sự quyết tâm, chỉ đạo sâu sát, ưu tiên ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động; vốn triển khai cho ứng dụng CNTT còn rất thấp so với nhu cầu thực tế, đặc biệt là vốn cho triển khai các dự án quy mô quốc gia; nhiều cán bộ, công chức chưa có thói quan, kỹ năng ứng dụng CNTT, chưa hình thành văn hóa chia sẻ thông tin.Theo Chỉ số phát triển CPĐT của Liên hợp quốc năm 2014, Việt Nam xếp hạng thứ 99 trên thế giới (giảm 10 bậc so với năm 2012) và đứng thứ 5 trong khối ASEAN sau Singapore, Malaysia, Brunei và Philippines. Chỉ số về cung cấp dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam được đánh giá thấp, chỉ đạt 0,41 cliểm thang điểm 1), trong khi đó của Singapore là 0,992 điểm và Malaysia là 0,677 điểm; chỉ số về hạ tầng viễn thông của Việt Nam đạt 0,38 điểm, của Singapore là 0,879 điểm và Malaysia là 0,446 điểm.Để đẩy mạnh phát triển CPĐT trong thời gian tới, ngày 14/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyet số 36a/NQ-CP về CPĐT. Nghị quyết này đã thể hiện quyết tâm chinh trị rất lớn của Chính phủ trong việc nâng vị trí của Việt Nam về CPĐT theo xếp hạng của Liên hợp quốc, công khai, minh bạch hoạt động của các CQNN trên môi trường mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu được nêu trong Nghị quyết số 36a/NQ-CP bao gồm:Một là, xây dựng hệ thống điện tử thông suốt, kết nối và liên thông văn bản điện tử, dữ liệu điện tử từ Chính phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.Hai là, thiết lập Cổng dịch vụ công quốc gia tại một địa chỉ duy nhất trên mạng điện tử (Một cửa điện tử quốc gia).Ba là, phấn đấu đến hết năm 2016 các bộ, ngành Trung ương có 100% các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến ở mức độ 3, một số dịch vụ công phổ biến, liên quan nhiều tới người dân, doanh nghiệp được cung cấp ở mức độ 4.Để đạt được các mục tiêu này, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh, gắn trách nhiệm người đứng đầu CQNN các cấp trong công tác triển khai ứng dụng CNTT tại cơ quan mình. Xây dựng CPĐT là nhiệm vụ vô cùng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự quyết liệt của các CQNN từ trung ương tới địa phương và sự chung tay, chung sức của toàn xã hội trong triển khai thực hiện.Nguồn: http://tcnn.vn
Chuyên mục: Uncategorized

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *